SINH NĂNG LƯỢNG - DƯỠNG TƯƠNG LAI

Tầm vóc và giá trị của “Dự án 47” (13/10/2015)

Việc xác định tổng thể tiềm năng dầu khí là rất cần thiết để hoạch định chiến lược cho tương lai, vì vậy ngành Dầu khí được giao thực hiện “Dự án 47”, một dự án đồ sộ, chuyên sâu về khoa học công nghệ (KHCN) ở tầm quốc gia.

Huy động tối đa nguồn lực khoa học công nghệ

Trong các định hướng chiến lược, kế hoạch xây dựng và phát triển ngành Dầu khí, có một công việc rất phức tạp, đòi hỏi tập trung trí tuệ và công sức của nhiều nhà khoa học, đã được triển khai từ gần 10 năm qua, đó là thực hiện Dự án “Đánh giá tiềm năng dầu khí trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam” thuộc “Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 1-3-2006 theo Quyết định số 47/2006/QĐ-TTg.

tam voc va gia tri cua du an 47

TS Nguyễn Quốc Thập, Phó tổng giám đốc thường trực Tập đoàn

báo cáo với Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải một số kết quả chính đạt được của Dự án

Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) - tổ chức KHCN hàng đầu trực thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) được giao thực hiện Dự án. Với một số lĩnh vực ngang tầm khu vực, Viện hoàn toàn có khả năng triển khai nghiên cứu phát triển và cung cấp dịch vụ khoa học - kỹ thuật cho toàn bộ chuỗi công nghiệp dầu khí. Đặc biệt trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, hoạt động KHCN của Viện tập trung chủ yếu vào xử lý, minh giải tài liệu địa chất, địa vật lý đã góp phần làm sáng tỏ các cấu trúc địa chất, đánh giá tiềm năng dầu khí các bể trầm tích trên đất liền và thềm lục địa Việt Nam cũng như ở nước ngoài - nơi có hoạt động dầu khí của Tập đoàn.

Đây là dự án nghiên cứu đầu tiên của Việt Nam với nhiệm vụ mục tiêu là xây dựng được cơ sở dữ liệu khoa học, đầy đủ, tin cậy về tiềm năng và trữ lượng dầu khí trên toàn bộ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, định hướng cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí, góp phần khẳng định và bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Tiến sĩ Đỗ Văn Hậu, nguyên Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam từng chỉ đạo, để dự án hoàn chỉnh đạt chất lượng cao nhất, Tập đoàn yêu cầu Viện Dầu khí Việt Nam huy động nguồn lực, trí tuệ của các chuyên gia, các nhà khoa học trong lĩnh vực thăm dò khai thác của toàn ngành.

tam voc va gia tri cua du an 47

Nguyên Tổng giám đốc Tập đoàn Đỗ Văn Hậu khẳng định giá trị và tầm vóc của Dự án 47

Trên cơ sở nhiệm vụ đó, VPI đã triển khai thực hiện 7 đề tài nhánh “Đánh giá tiềm năng và trữ lượng dầu khí” của 8 bể trầm tích gồm Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay - Thổ Chu, Phú Quốc, Trường Sa, Tư Chính -Vũng Mây và Đề tài tổng hợp chung “Đánh giá tổng thể về tiềm năng dầu khí toàn thềm và định hướng công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí”.

Trong hơn 8 năm qua, từ khi có Quyết định 47, hàng chục nhà khoa học đã xử lý và minh giải một khối lượng khổng lồ các tài liệu, số liệu khảo sát địa chất, địa vật lý, với đủ các luận cứ khoa học và độ tin cậy cần thiết.

Thời gian trôi đi, từng phần, từng mảng dần được dựng lên. Dự án 47 đã chính xác hóa cấu trúc và xác định ranh giới giữa các bể trầm tích Cenozoic (Niên đại Tân sinh - có tuổi địa chất khoảng từ 65 triệu năm trước trở lại đây) trên toàn bộ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam.

Một số vấn đề cơ bản về kiến tạo Biển Đông như: Hoạt động đứt gãy của các hệ thống chính; cơ chế hình thành và lịch sử phát triển địa chất của các đơn vị kiến tạo trong các giai đoạn trước tách giãn, tách giãn, sau tách giãn; hoạt động magma phun trào vào các thời kỳ khác nhau; điều kiện và môi trường trầm tích của các phân vị địa tầng trong Cenozoic… đã được làm sáng tỏ nhờ đối sánh và liên kết khu vực một cách tổng thể, thống nhất và hệ thống.

Cấu trúc địa chất của các bể trầm tích, đới, vùng, cấu tạo và bẫy chứa đã được chính xác hóa bằng các số liệu mới với sự hỗ trợ của việc áp dụng công nghệ, trang thiết bị, phần mềm minh giải tài liệu hiện tại, có độ tin cậy và chính xác cao cho nghiên cứu phân vùng triển vọng và đánh giá tiềm năng dầu khí. Các đơn vị cấu tạo bậc I, II ở các bể trầm tích đã được xác lập và chuẩn hóa.

Kết quả phân tích, đánh giá hệ thống dầu khí (đá sinh, đá chứa, đá chắn, bẫy và thời gian di cư hydrocarbon của từng đới, vùng, khu vực và bể trầm tích) là cơ sở để dự án xác định phạm vi phân bố và phân loại các tập hợp triển vọng. Trên cơ sở phân tích đánh giá hệ thống dầu khí và tiềm năng, trữ lượng dầu khí, dự án đã xác lập và phân chia khu vực nghiên cứu thành 5 cấp độ triển vọng: vùng triển vọng cao, vùng triển vọng khá, vùng triển vọng trung bình, vùng triển vọng thấp và vùng chưa rõ triển vọng.

Với công sức của tập thể tác giả, dự án đã xây dựng được bộ bản đồ tỷ lệ 1:1.000.000 cho toàn bộ thềm lục địa và vùng biển Việt Nam và hàng nghìn sơ đồ, bản đồ, biểu đồ, mặt cắt, hình vẽ… thể hiện chi tiết cấu trúc địa chất, tiềm năng dầu khí của 8 bể trầm tích và toàn thềm. Trong đó có bản đồ các yếu tố kiến tạo cho từng bể trầm tích; bản đồ dị thường từ, dị thường trọng lực cho các khu vực nghiên cứu; bản đồ cấu trúc (đẳng thời/đẳng sâu), đẳng dày của các tầng, các đối tượng có tiềm năng dầu khí; bản đồ cổ tướng đá và môi trường trầm tích; bộ bản đồ về đá mẹ, mức độ trưởng thành và dịch chuyển dầu khí; bộ bản đồ các mỏ, cấu tạo triển vọng và các tập hợp triển vọng (play) dầu khí; các bản đồ phân vùng triển vọng và đánh giá rủi ro các tầng, các đối tượng chứa dầu khí…

Được biết, đây là lần đầu tiên bộ bản đồ được xây dựng một cách đồng bộ, đầy đủ và hoàn chỉnh trên cơ sở tổng hợp, liên kết hàng loạt bản đồ tương ứng ở tỷ lệ lớn hơn (1:200.000 - 1:500.000) của các bể trầm tích, định hướng cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò tài nguyên dầu khí nói riêng và khoáng sản nói chung; đáp ứng yêu cầu quy hoạch và quản lý tài nguyên, môi trường biển trong những năm trước mắt và lâu dài.

Bức tranh tổng thể được lắp ghép. Số lượng, khối lượng, các loại sản phẩm KHCN chính của Dự án 47 đều đạt và vượt so với Đề cương đã được phê duyệt.

Kết thúc dự án này, VPI đã đưa ra nhiều đề xuất quan trọng. Trong đó khuyến nghị cần tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu điều tra cõ bản; khai thác, ứng dụng tổ hợp các phương pháp và công nghệ hiện đại để nghiên cứu cấu trúc nứt nẻ, quy mô phân bố bẫy chứa và đánh giá lại trữ lượng dầu khí của đá móng ở các bể Cửu Long, Nam Côn Sõn và Ðông Bắc bể Sông Hồng. Với các bể khác đều có những đề xuất cụ thể cho những công việc cần làm ở giai đoạn tiếp sau.

Các tác giả đồng thời cũng đề ra phương hướng triển khai công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí tại từng khu vực cụ thể trong thời gian tới. Theo đó, cần ưu tiên nguồn lực cho các vùng có triển vọng cao, triển vọng khá về dầu và khí ở các bể trầm tích trên thềm lục địa và vùng biển Việt Nam. Đối với các bể trầm tích, khu vực mới có hoạt động tìm kiếm thăm dò, chưa có mỏ hoặc đối tượng đưa vào khai thác dầu khí, cần tập trung nghiên cứu, thu nổ địa chấn 2D, 3D bổ sung, lựa chọn tiến hành khoan thăm dò các đối tượng tiềm năng, để gia tăng trữ lượng các cấp. Đối với các bể, các diện tích truyền thống, cần đẩy mạnh nghiên cứu chính xác hóa tiềm năng, khoan thăm dò bổ sung và thẩm định các diện tích, đối tượng cụ thể, nhằm gia tăng trữ lượng xác minh và sản lượng khai thác.

Kết quả xứng đáng với kỳ vọng

Tại sự kiện quan trọng nhất của Dự án 47, sự kiện Ban Chỉ đạo Nhà nước về điều tra cơ bản tài nguyên - môi trường biển tổ chức họp Hội đồng Nghiệm thu cấp Nhà nước về kết quả thực hiện Dự án vào ngày 10-11-2014, qua các đánh giá mới thấy tầm vóc và giá trị to lớn của Dự án 47.

tam voc va gia tri cua du an 47

Tiến sĩ Phan Ngọc Trung, Chủ nhiệm Dự án báo cáo kết quả trước Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước

Tiến sĩ Phan Ngọc Trung, Thành viên HĐTV Tập đoàn, Chủ nhiệm Dự án 47, lúc ấy còn là Viện trưởng VPI đã thực sự phấn kích khi báo cáo kết quả của dự án. Ông cho biết, dự án đánh giá tiềm năng dầu khí theo 4 cấp độ: bể trầm tích, hệ thống dầu khí, play và cấu tạo triển vọng. Kết quả nghiên cứu của dự án đã làm rõ việc hình thành, tích tụ và phân bố dầu khí, xây dựng được một cơ sở dữ liệu khoa học, đầy đủ, tin cậy về tiềm năng và trữ lượng dầu khí trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam; phục vụ việc hoạch định chính sách và xây dựng chiến lược tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí, các giải pháp quản lý và khai thác hợp lý tài nguyên môi trường biển của Nhà nước một cách khoa học, hiệu quả; góp phần khẳng định, bảo vệ chủ quyền quốc gia và an ninh quốc phòng. Đây cũng là cơ hội giúp ngành Dầu khí Việt Nam có điều kiện phát triển, ứng dụng các công nghệ hiện đại, đào tạo nguồn cán bộ quản lý, nghiên cứu chất lượng cao trong lĩnh vực tìm kiếm thăm dò và quản lý khoáng sản biển.

Đánh giá về Dự án, GS.TS Trần Văn Trị - Phó chủ tịch Tổng hội Địa chất Việt Nam và PGS.TS Lê Hải An - Hiệu trưởng trường Đại học Mỏ - Địa chất đều cho rằng nhóm tác giả của Dự án 47 là các nhà khoa học và các nhà nghiên cứu có bề dày kinh nghiệm thực tiễn và lý thuyết, đã tạo ra một sản phẩm trí tuệ có độ tin cậy cao, mang tính khoa học và thực tiễn, xác lập được một bộ cơ sở dữ liệu dầu khí thống nhất và đầy đủ, có tính định hướng cho các nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo cũng như cho công tác hoạch định chính sách và xây dựng chiến lược tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí. Dự án đồng thời xây dựng, đào tạo và nâng cao kiến thức của đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao với trang thiết bị tiên tiến, các hệ thống phần mềm chuyên dụng hiện đại và cập nhật nhất trong lĩnh vực dầu khí.

Nhìn nhận về Dự án 47 từ phía nhà quản lý của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập, Phó tổng giám đốc thường trực Tập đoàn, Chủ tịch Hội đồng KHCN của Tập đoàn, người đã theo sát chỉ đạo Dự án trong hơn 6 năm qua, đánh giá :“Công trình này là sản phẩm trí tuệ của Tập đoàn trong gần 55 năm xây dựng và trưởng thành của ngành Dầu khí. Chúng ta đã có được một bức tranh tổng thể về tiềm năng dầu khí, đánh giá được quy mô phân bố, thứ tự xếp hạng của các bồn trũng, bể trầm tích toàn thềm lục địa Việt Nam. Kết quả đó là cơ sở để chúng ta xây dựng chiến lược cũng như quy hoạch về tìm kiếm thăm dò dầu khí, phân loại được khu vực nào là trọng điểm, khu vực nào cần ưu tiên triển khai trước... Kết quả của công trình này là tiền đề để xây dựng quy hoạch, chỉ ra vùng cần khuyến khích kết hợp đầu tư với nước ngoài, khu vực cần ưu tiên cho các nhà điều hành trong nước. Công trình đã khẳng định được năng lực, trình độ của các chuyên gia, kỹ sư Việt Nam trong lĩnh vực tìm kiếm thăm dò dầu khí”.

Nhận định về những thuận lợi và khó khăn đã được vượt qua, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập cho biết, dự án rất lớn nên được chia thành 8 tiểu dự án khác nhau. Khi xem xét phê duyệt đề cương, quan điểm còn rất khác nhau, ví dụ, xác định mục tiêu như thế nào là vừa đủ, cơ sở dữ liệu của các tiểu dự án cũng rất khác nhau, chỗ thì đòi hỏi quá cao, chỗ thì chưa đủ nên phải thuyết phục lẫn nhau, giống như một ban nhạc, các nhạc công cần phải khớp nhau để tạo nên bản hòa tấu. Khó khăn lớn nhất là đưa được một ngôn ngữ và phong cách trình bày thống nhất vào các tiểu dự án.

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập cũng cho biết các nhà khoa học đã dành nhiều thời gian trao đổi cùng nhau, rất tâm huyết, rất trí tuệ để đi đến thống nhất để triển khai. Việc đánh giá kết quả, nghiệm thu từng tiểu dự án được thực hiện hết sức sâu sát, đặc biệt là giai đoạn tổng hợp cuối cùng. Thuận lợi là chúng ta có một cơ sở dữ liệu rất đồ sộ được tích lũy từ các thời kỳ trước của Nga, của các công ty tư bản và của chúng ta tự xây dựng thời gian qua. Được sự hỗ trợ của nhiều cán bộ lão thành là chuyên gia đầu ngành theo sát quá trình thực hiện đề án, kịp thời chỉ ra những hướng đi đúng đắn, giải thích xuất xứ và căn cứ và xác định độ tin cậy của các tư liệu. Chúng ta lại có được một lực lượng nhà khoa học trẻ tinh thông về khoa học, công nghệ thông tin, giỏi về sử dụng khai thác các phần mềm nên đã cho ra những sản phẩm tiếp cận trình độ của khu vực và thế giới.

Trả lời những băn khoăn khi so sánh công sức và chi phí của Dự án giữa trong nước và quốc tế, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Thập cho hay, nếu để một tổ chức tư vấn nước ngoài thực hiện một đề tài như thế này, tính bảo mật thông tin có thể sẽ không được bảo đảm, họ chắc chắn vẫn phải hợp tác với cơ quan nghiên cứu của chúng ta vì không thể đảm đương được hết khối lượng công việc. Quan trọng nhất, đến thời điểm này, chỉ có các nhà khoa học địa chất Việt Nam mới hiểu hết về địa chất và thềm lục địa Việt Nam. Xét về khía cạnh kinh tế, chắc chắn chi phí để hoàn thành công trình này thấp hơn thuê nước ngoài ít nhất là 3-4 lần.

Tuy nhiên, ông cũng lưu ý, trong khoa học địa chất, không phải lúc nào cũng 1+1=2 nên các chuyên gia, các nhà khoa học của chúng ta vẫn phải tiếp tục phát triển thêm các dự án tiếp theo với một lộ trình cụ thể vì kết quả của đề án này vẫn chưa phải là sản phẩm cuối cùng.

tam voc va gia tri cua du an 47

Thứ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường Chu Phạm Ngọc Hiển đánh giá về Dự án 47 tại Phiên nghiệm thu đề tài

Thứ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường Chu Phạm Ngọc Hiển, Chủ tịch Hội đồng Nghiệm thu cấp Nhà nước đã đánh giá về kết quả Dự án 47 như sau: Dự án “Đánh giá tiềm năng dầu khí trên vùng biển và thềm lục địa Việt Nam” đã đạt được kết quả rất có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như thực tiễn trong lĩnh vực Dầu khí; với khối lượng công việc và tài liệu hết sức đồ sộ, các tác giả đã tổng hợp đánh giá công phu và toàn diện cũng như làm sáng tỏ được bức tranh cấu trúc địa chất, địa vật lý, hệ thống dầu khí, xác định được cấp độ triển vọng và và tiềm năng dầu khí của các bể, cụm bể trên thềm lục địa và vùng biển Việt Nam; đã đề xuất định hướng thăm dò tiếp theo ở các bể trầm tích... Dự án đã thực hiện theo đúng trình tự nội dung được phê duyệt, sử dụng các phương pháp nghiên cứu tiên tiến, phù hợp với thông lệ, quy chuẩn quốc tế, đảm bảo độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. Sản phẩm của dự án có thể sử dụng cho các đề án, dự án nghiên cứu sau này không chỉ thuộc lĩnh vực dầu khí mà còn các lĩnh vực khác về tài nguyên biển và hải đảo của Việt Nam. Các kiến nghị của dự án là phù hợp để các nhà quản lý xem xét, định hướng cho việc điều tra, thăm dò dầu khí trong thời gian tới.

Hội đồng Nghiệm thu cấp Nhà nước đã tiến hành đánh giá chấm điểm theo quy định và thống nhất chấm dự án đạt điểm xuất sắc (90,45 điểm).