SINH NĂNG LƯỢNG - DƯỠNG TƯƠNG LAI

Chống hạn ở miền Trung, Tây Nguyên: Sử dụng nước tiết kiệm và hợp lý (11/04/2013)

Khô hạn đang diễn ra trên diện rộng ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên khiến các hồ thủy điện (TĐ) cũng gách vác trọng trách nặng nề giữa bài toán phát điện và cấp nước.
 
 
 



Vận hành phát điện kết hợp cấp nưới tưới cho hạ du theo điều độ của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia tại nhà máy thủy điện Đa Nhim. Ảnh: Ngọc Hà/Icon.com.vn
 
Từ đầu năm đến nay, các nhà máy thủy điện (NMTĐ) và nhiều địa phương trong khu vực đã chủ động triển khai các phương án chống hạn hiệu quả với mục tiêu cao nhất là ưu tiên cho nước sinh hoạt và sản xuất của người dân vùng hạ du.

* Địa phương tìm giải pháp

Vụ Đông Xuân hàng năm trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên nói chung và Đăk Lăk nói riêng trùng vào thời kỳ mùa khô. Với đặc điểm khí hậu lượng mưa trong mùa (6 tháng) chiếm phần nhỏ so với tổng lượng mưa năm, vụ sản xuất này, trên địa bàn các tỉnh trong khu vực thường xảy ra thiếu nước phục vụ sản xuất cũng như nước sinh hoạt ở  một số vùng.   

Theo báo cáo của các huyện, thị xã và thành phố Buôn Ma Thuột (Đăk Lăk), tính đến ngày 26/3, đã có trên 33.600 ha cây trồng vụ Đông Xuân 2012-2013 bị hạn và 2.687 ha bị mất trắng. Hiện nay, nhiều địa phương còn xảy ra tình trạng thiếu nước sinh hoạt.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đăk Lăk Trang Quang Thành cho biết trước thực tế này, nhiều địa phương đã rà soát diện tích cây trồng cần tưới và cân đối nguồn nước hiện có để bố trí ưu tiên nguồn nước. Quan điểm là ưu tiên nước sinh hoạt cho người, nước phục vụ chăn nuôi và tưới cho cây công nghiệp dài ngày như cà phê, hồ tiêu, sau đó mới tưới lúa và hoa màu khác. Tùy theo từng khu vực cụ thể để thực hiện các giải pháp thiết thực và hiệu quả nhất trong công tác chống hạn. Đơn cử khi hồ chứa cạn khô thì đào ao, giếng trong lòng hồ để tận dụng nước ngầm bơm tưới cứu cây cà phê hoặc khi cân đối không đủ nước thì có phương án tưới cầm chừng giữ cho toàn bộ diện tích cà phê không bị chết để chăm sóc khôi phục vụ sau.

Chính quyền các địa phương cũng nghiêm cấm việc khoan đào giếng quá sâu gây mất nước trong vùng; đồng thời khuyến cáo nhân dân áp dụng giải pháp khoan ngang để gom nước chống hạn. Do nguồn nước mặt hạn chế, một số địa phương cũng thác nước ngầm tưới cho lúa bằng các biện pháp tưới tiết kiệm rất hiệu quả. Ở xã Bình Hòa và ĐurKmăl, huyện Krông Ana, nhiều hộ dân đã khoan giếng trên ruộng, sử dụng giải pháp tập trung nước ngầm để bơm tưới, vì vậy cứu được khoảng 300 ha lúa đang thời kỳ làm đòng.

Tuy nhiên, do dòng chảy trên các sông liên tục thiếu hụt, trong khi dung tích trữ của các hồ chứa nước ở các tỉnh trong khu vực không lớn, thậm chí nhiều hồ chứa chưa đảm bảo an toàn nên không được tích nước cùng với tình hình khô hạn, thiếu nước trong những tháng tới được dự báo sẽ gay gắt hơn, rộng hơn. Do vậy, UBND các tỉnh, thành phố cần chỉ đạo chính quyền cơ sở, các cơ quan chức năng của địa phương và nhân dân tổ chức sản xuất theo đúng lịch thời vụ và kế hoạch xả nước  của các hồ TĐS, thủy lợi, đảm bảo gieo cấy tập trung, đại trà nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nước và tránh thất thoát tài nguyên nước.

* Ngành điện ưu tiên chống hạn

Mùa khô năm nay, lượng nước cần xả xuống hạ du từ các hồ TĐ trong khu vực dự kiến lên đến trên 6,3 tỷ m3. Chưa tính đến việc phân bổ lượng nước các hồ TĐ để đảm bảo an ninh cung cấp điện trong mùa khô, với lượng nước đang tích trong hồ và lượng nước về tự nhiên, nhiều hồ TĐ khó đáp ứng được nhu cầu nước nông nghiệp như A Vương, Sông Tranh, Sông Côn, Đăk Mi, Đa Mi. Đối với hồ TĐ Sông Hinh và Sông Ba Hạ có thể đáp ứng được vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu nhưng do yêu cầu về nước của hạ du Đồng Cam thường kéo dài, mùa lũ của hồ Sông Ba Hạ thường từ tháng 9, Sông Hinh vào tháng 10 nên việc cấp nước cho khu vực này vào các tháng 7, 8 và 9 có thể gặp khó khăn.

Tuy nhiên, cùng với những nỗ lực của các địa phương trong việc triển khai các giải pháp chống hạn, các hồ TĐ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã chủ động điều tiết mực nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân vùng hạ du. TĐ A Vương là một ví dụ.

Hiện nay, nhà máy này chỉ duy trì chạy 1 tổ máy để cung cấp nước tưới cho 15.000 ha ở hạ du huyện Đại Lộc, thành phố Hội An và một phần huyện Điện Bàn (Quảng Nam). Nhà máy còn phối hợp đồng bộ với các NMTĐ Sông Bung 5 và 6 trong việc đảm bảo lưu lượng cung cấp nước cho phía hạ lưu. Điều mà Tổng Giám đốc Công ty TĐ A Vương Nguyễn Trâm lo lắng nhất hiện nay là làm sao các địa phương này tận dụng tối đa và hiệu quả nguồn nước do các hồ TĐ cung cấp.

Cùng chia sẻ với những băn khoăn này, ông Đỗ Đức Hoài, Phó Giám đốc Công ty TĐ An Khê-Ka Nak cho biết, hiện nay, công ty đang yêu cầu lưu lượng chạy máy qua TĐ Ka Nak là 18 m3/s để đưa nước về hạ lưu, cung cấp nước sinh hoạt cho các huyện An Khê, Kông Chro (Gia  Lai) và nước sản xuất nông nghiệp của thị xã An Khê. TĐ An Khê cũng duy trì lưu lượng qua máy 25 m3/s để cấp nước cho lưu vực sông Côn.

Ông Ngô Minh Hùng, Phó Phòng Kỹ thuật Công ty CP TĐ Vĩnh Sơn-Sông Hinh chia sẻ: Đến cuối tháng 3/2013, lưu lượng mà nhà máy TĐ Sông Hinh bổ sung cho đập thủy lợi Đồng Cam, sông Ba là 53,4 m3/s trong khi lưu lượng về là 31,3 m3/s. Trong những tháng tới, nếu lưu lượng nước về hồ với tần suất 75% thì nhà máy này có thể đáp ứng được từ 20-22m3 cho đập Đồng Cam trong mùa khô 2013. Với nhu cầu dùng nước dự kiến của đập Đồng Cam trong cả năm, khả năng TĐ Sông Hinh sẽ đáp ứng trên 934,4 triệu m3.

Đối với TĐ Vĩnh Sơn, nhà máy này có nhiệm vụ bổ sung nước cho Sông Côn, hồ thủy lợi Định Bình, cung cấp nước tưới cho 34.000 ha đất nông nghiệp vùng hạ du Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, An Nhơn, Tuy Phước, Phù Cát và một phần thành phố Quy Nhơn (Bình Định).

Từ tháng 3/2013, EVN đã cho phép Công ty TĐ Buôn Kuốp tăng thời gian vận hành từ 14-16h/ngày để đáp ứng nhu cầu phục vụ nước nông nghiệp cho địa phương với lưu lượng xả bình quân từ 55-65 m3/s/ngày. “Thời điểm chạy máy từ 5-6h sáng hàng ngày cho đến khi nhân dân thu hoạch các diện tích gieo trồng để tạo thuận lợi cho người dân có thể lấy nước. Vấn đề này đã được công ty thống nhất với huyện Krông Nô và Công ty TNHH MTV Thủy nông Đăk Nông ”, ông Nguyễn Tấn Triết, Phó Giám đốc Công ty cho hay. Sau khi hết mùa khô, Công ty  sẽ ngưng chạy máy để Công ty Thủy nông Đăk Nông chỉ đạo HTX thủy nông D12 xã Quảng Phú, huyện Krông Nô, Đăk Nông tháo dỡ đập ngăn lấy nước theo cam kết, đảm bảo an toàn khi TĐ Buôn Tua Srah tiến hành xả lũ.

* Điều tiết hài hòa các lợi ích

Mới đây, đoàn công tác của Tổng cục Thủy lợi, Viện Quy hoạch thủy lợi, Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia (EVN), UBND các tỉnh và các công ty phát điện trong khu vực miền Trung và Tây Nguyên sau khi khảo sát tình hình thủy văn, thực trạng nhu cầu từng lưu vực sông đã thống nhất với các địa phương chủ trương điều tiết nước từ các hồ TĐ.

Mục tiêu lớn nhất là xả nước tập trung, tránh kéo dài gây lãng phí nguồn nước, điều tiết hài hòa các lợi ích giữa cung cấp nước sinh hoạt, nước sản xuất và phát điện trên tinh thần tiết kiệm theo  đúng chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại Thông báo số 124/TB-VPCP ngày 25/3/2013. Lịch xả nước được căn cứ vào thực trạng nước tại các hồ TĐ, nhu cầu của từng khu vực hạ du để xác định thời gian và lưu lượng nước xả cụ thể.

Việc còn lại là các địa phương cần thực hiện triệt để các biện pháp tưới tiết kiệm nước, hướng dẫn bà con tập trung xuống đồng gieo cấy trong những ngày các hồ TĐ xả nước. Đồng thời tổ chức nạo vét các kênh rạch, ao hồ trữ nước, khơi sâu giếng đào, khoan thêm nước, quản lý chặt chẽ nguồn nước...để đảm bảo nước tưới lâu dài cho vụ Hè Thu.

Tại Thông báo số 124, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương chủ động xây dựng phương án sản xuất vụ Hè Thu 2013 theo điều kiện nguồn nước hiện có. Những khu vực không đủ nước tưới, hoặc khó khăn về nguồn nước phải hướng dẫn người dân chuyển đổi sang cây trồng khác có khả năng chịu hạn để hạn chế thiệt hại do hạn hán.

Về lâu dài, Bộ này và các địa phương cần điều tra, nghiên cứu quy hoạch nguồn nước, quy hoạch sản xuất phù hợp với điều kiện nguồn nước để sớm xây dựng các hồ chứa thủy lợi phù hợp với lưu vực cung cấp nguồn nước. Song song với việc đẩy mạnh trồng rừng, bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn của các hồ chứa.

Trong điều kiện môi trường và thiên tai ngày càng biến đổi, sự phối hợp chặt chẽ và có trách nhiệm giữa ngành điện với địa phương chính là lời giải cho bài toán phát điện và cấp nước mỗi khi xảy ra khô hạn. Nhưng trên hết, sử dụng nguồn nước tiết kiệm và hợp lý vẫn là giải pháp tối ưu nhất cho bài toán này trong thời gian tới.