CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 15 NĂM THÀNH LẬP TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC DẦU KHÍ VIỆT NAM - CTCP (17/5/2007 - 17/5/2022)

Quy hoạch năng lượng còn nhiều bất cập (14/05/2013)

Tới nay, Việt Nam đã có 7 quy hoạch ngành điện, 5 quy hoạch ngành than, 3 quy hoạch ngành khí, 1 dự thảo quy hoạch phát triển năng lượng mới & tái tạo và Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia được phê duyệt lần đầu tiên vào 27/12/2007.
 
 
 
 


Ảnh: Ngọc Hà/Icon.com.vn
 
Tuy nhiên, do thiếu một quy hoạch tổng thể hệ thống năng lượng quốc gia nên các quy hoạch phân ngành thể hiện sự thiếu đồng bộ và tính thống nhất chưa cao.

Thiếu quy hoạch tổng thể

Theo TS Trần Viết Ngãi, sự thiếu đồng bộ và tính thống nhất chưa cao đã dẫn tới khá nhiều bất cập trong quá trình thực hiện quy hoạch. Cụ thể, thay vì phải phê duyệt quy hoạch phát triển các phân ngành năng lượng sơ cấp như than, dầu khí và quy hoạch phát triển năng lượng mới, năng lượng tái tạo để đảm bảo được độ tin cậy thì chúng ta lại quy hoạch điện trước, tức là làm ngược quy luật. Cụ thể, năm 2011 có quy hoạch điện VII, nhưng đến đầu năm 2012 mới có quy hoạch ngành than. Hoặc Quy hoạch ngành dầu khí giai đoạn 2011 - 2012 có xét đến năm 2030, đến nay chưa được xây dựng nhưng lại có Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp khí Việt Nam giai đoạn đến năm 2015, định hướng phát triển đến năm 2025. Hoặc các dự án điện trải đều ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, do đó khi quy hoạch và thiết kế các nhà máy nhiệt điện chạy than nằm dọc bờ biển miền Trung và miền Nam, đòi hỏi phải có cảng để đưa than phục vụ việc phát điện, tránh tình trạng phải qua nhiều khâu trung chuyển khiến giá thành tăng cao như hiện nay. Cũng theo ông Ngãi, thời gian hợp lý để phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực nên được phê duyệt sau khi có quy hoạch phát triển các phân ngành năng lượng nhằm đảm bảo được độ tin cậy. Điều này ảnh hưởng lớn đến tình hình triển khai các dự án nguồn điện thuộc Tổng sơ đồ VII.

Trên thực tế, hầu hết các quy hoạch hiện có đều vấp phải những hạn chế như: Tư liệu, số liệu phục vụ quy hoạch thiếu thống nhất, thiếu tin cậy, không có sự thẩm định kĩ càng khiến cho việc thực hiện không theo kịp quy hoạch. Ví dụ: theo quy hoạch than, năm 2015 khai thác 55-58 triệu tấn là rất khó khăn. Hoặc tổng công suất nguồn điện cả nước hiện nay là 27.000 MW, điện lượng 100 tỉ kWh. Đến năm 2020 là 330 tỉ kWh, năm 2030 là 695 - 834 tỉ kWh. Từ mốc 100 tỉ kWh hiện hành đến mốc xấp xỉ 700 tỉ kWh không hề đơn giản.

Mặt khác, các quy hoạch phân ngành thường có thời gian 5 năm trong khi lẽ ra cần có thời gian ít nhất là 10- 15  năm và tầm nhìn từ 20-30 năm. Bởi lẽ, với thời gian ngắn như vậy sẽ không đủ để các ngành kịp  xoay xở để xây dựng 1 nhà máy điện, mở 1 mỏ than mới… Vì vậy, từ nhiều năm nay, các công trình nguồn và lưới điện luôn trong tình trạng không theo kịp tiến độ. Ngay trong Quy hoạch điện VII cũng đang tiềm ẩn nguy cơ nhiều nguồn điện quan trọng, công suất lớn chậm tiến độ, hoặc không thể đưa vào vận hành trong giai đoạn 2011- 2025. Hàng chục dự án các nguồn điện quan trọng, công suất lớn của Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Công nghiệp Than- Khoáng sản và các nhà đầu tư BOT, IPP khác đã xuất hiện khả năng chậm tiến độ hoặc chắc chắn không thể vận hành trong giai đoạn 2011-2015. Một số dự án như Nhiệt điện Quảng Trị, Nhà máy điện chu trình hỗn hợp Ô Môn II …chưa xác định được chủ đầu tư. Dự án nhiệt điên Kiên Lương đang tìm chủ đầu tư thay thế Tập đoàn Tân Tạo vì không đủ năng lực tài chính. Khả năng cân đối tài chính để đáp ứng nhu cầu than ngày càng khó khăn do khai thác ngày càng xuống sâu, thuế, phí môi trường, chi phí đầu tư tăng cao khiến mỗi năm chi phí giá thành sản xuất than tăng 4-5%, nhưng giá bán than lại tăng chậm.

 TS. Trần Hồng Nguyên- Trường Đại học Điện lực phân tích: “Giá các loại nhiên liệu- năng lượng là đầu vào, đầu ra của nhau nhưng thiếu sự cân đối và tương quan hợp lý, điển hình giá than nội địa tính cho các dự án điện than trong quy hoạch phát triển điện lực quốc gia không phán ánh thực sự đầy đủ thành phần chi phí nhiên liệu trong giá thành sản xuất điện. Thực tế, giá than cho điện nhiều năm nay vẫn thấp hơn giá thành, khiến ngành than gặp nhiều khó khăn. Trong khi hàng năm, vì nhiều lý do khác nhau, ngành điện vẫn thường xuyên lỗ”.  

Hay với phát triển điện gió, Viện Năng lượng đánh giá tổng tiềm năng gió của nước ta là 1.800MW, trong khi GTZ (Đức) công bố số liệu điều tra của WB lên tới 513.360MW- một sự chênh lệch quá lớn!!

 “Mỗi quy hoạch đưa ra quá nhiều mục tiêu, nhưng lại thiếu những kế hoạch, giải pháp thực hiện cụ thể. Có rất nhiều dự án có trong quy hoạch nhưng không biết sẽ lấy vốn ở đâu? cơ quan nào giám sát xem quá trình thực hiện dự án như thế nào?”- TS Trần Viết Ngãi nhìn nhận.

Cần sự điều hành của Chính phủ

Theo các chuyên gia, sở dĩ quy hoạch thiếu sự đồng bộ là do trước nay, mỗi ngành được cấp 1 nguồn kinh phí khác nhau, vào thời gian khác nhau, nên rơi vào tình trạng ngành nào có tiền trước thì làm quy hoạch trước…

Để khắc phục, VEA đề nghị: Chính phủ cần khẩn trương hiệu chỉnh, bổ sung, hoàn thiện và lập mới đồng bộ về thời gian Quy hoạch các phân ngành năng lượng giai đoạn 2011 – 2020 có xét đến năm 2030, nhằm vào mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể của Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia. Việc làm này sẽ hỗ trợ tích cực trong việc tính toán các nhu cầu năng lượng các năm 2015 - 2020 có xét đến 2030 và tầm nhìn đến 2050 nhằm phục vụ cho phát triển bền vững các ngành kinh tế.

Lấy Quy hoạch điện VII làm gốc, rà soát ngay tình trạng các nguồn điện, từ đó tính toán lại nhu cầu điện của nên kinh tế xã hội các năm 2015, có xét đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050. Đồng thời, ban hành Nghị định về cơ chế khuyến khích hỗ trợ phát triển năng lượng tái tạo nhằm xây dựng giá năng lượng tái tạo hợp lý tạo điều kiện thu hút đầu tư, tích cực chuẩn bị mọi công việc có liên quan để xây dựng Luật Năng lượng tái tạo trình Quốc hội thông qua. Mở rộng tìm kiếm thăm dò, khai thác các nguồn năng lượng trong và ngoài nước. Có chiến lược phát triển mạnh các dạng năng lượng tái tạo, tránh và giảm nhẹ các tác động ô nhiễm trong các khâu hoạt động năng lượng để bảo vệ môi trường. Điều chỉnh giá năng lượng hợp lý, hình thành và phát triển thị trường năng lượng cạnh tranh.

TS Trần Hồng Nguyên, Trường Đại học Điện lực (EVN) cũng cho rằng, Nhà nước cần chỉ đạo các bộ, ngành liên quan xây dựng cơ sở dữ liệu có tính pháp lý, đủ độ tin cậy đáp ứng yêu cầu của công tác quy hoạch năng lượng quốc gia. Bộ Công thương chỉ đạo việc đánh giá và cập nhật nhu cầu năng lượng để có chương trình phát triển các công trình năng lượng hợp lý, đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho quốc gia.

TS Đỗ Hữu Hào- Chủ tịch Hội Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cũng khẳng định: Đã đến lúc cần có bàn tay Nhà nước điều khiển để các bộ, ngành liên quan xây dựng cơ sở dữ liệu có tính pháp lý, đủ động tin cậy, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quy hoạch năng lượng quốc gia; làm cơ sở cho việc thực hiện các phân ngành năng lượng.