SINH NĂNG LƯỢNG - DƯỠNG TƯƠNG LAI

Nhiều dự án điện bị treo vì thiếu vốn (17/03/2011)

Theo đánh giá của Viện Năng lượng, tiềm năng trình thủy điện vừa và nhỏ của tỉnh Kon Tum rất lớn với khoảng 120 công trình, trong đó 70 công trình có công suất từ 1MW đến 30MW; 50 công trình có công suất từ 0,3MW đến 1MW.



Khoảng 19 công trình có khả năng xây dựng trong đợt đầu với tổng công suất phát gần 100 MW. Hầu hết các công trình dự kiến quy hoạch, xây dựng đều không có hộ dân nào trong vùng hồ, tránh được việc quy hoạnh tái định cư.

Diện tích đất, rừng bị ảnh hưởng đối với từng công trình là rất nhỏ, không đáng kể. Diện tích đất nông nghiệp, cây công nghiệp gần như không có. Kết quả nghiên cứu, phân tích kinh tế, tài chính cho thấy, tất cả các công trình nghiên cứu trong đợt 1 đều đạt chỉ tiêu tài chính khả thi tốt, đạt từ 87,87 đến 100 theo chỉ tiêu xếp hạng kinh tế/kỹ thuật TEPI (Technical/Economec Preferen Index) mà các công ty tư vấn nổi tiếng trên thế giới ở Na Uy, Thuỵ Điển thường sử dụng.

Việc đánh giá này được áp dụng trên cơ sở tính toán với mức lãi suất vay vốn trung bình từ 8-9%/năm. Trong danh mục ưu tiên, có thể xem xét Kon Tum là tỉnh miền núi và các công trình thủy đến vừa và nhỏ nằm trên các huyện thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn, nếu được vay vốn với mức lãi suất ưu đãi, thì hiệu quả tài chính của các công trình càng cao hơn và sẽ an toàn hơn.

Tuy nhiên, qua nhiều năm, việc triển khai xây dựng các công trình thủy điện vừa và nhỏ ở Kon Tum lại diễn ra không suôn sẻ. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 79 công trình xin đăng ký đầu tư, trong đó trong quy hoạch có 52 công trình và ngoài quy hoạch có 27 công trình, nhưng hiện mới có 6 công trình được xây dựng hoàn thành và phát điện gồm: thủy điện Kon Đào- công suất 1 MW, hòa lưới 22KV; thủy điện Đăk Rơ Sa- công suất 7,5 MW, hòa lưới 22KV; thủy điện Đăk Pô Ne-công suất 14 MW hòa lưới 22 KV; thủy điện Đăk Pô Ne 2-công suất 3,6 MW, hòa lưới 22KV; thủy điện Đăk Psi 4-công suất 30 MW, hòa lưới 110KV; thủy điện Đăk Ne-công suất 8,1 MW, hòa lưới 110KV. Phần lớn các công trình còn lại đang trong thời gian lập dự án đầu tư, xin phép chủ trương đầu tư.

Mặc dù gọi là các dự án ''vừa và nhỏ" nhưng đầu tư phát triển thủy điện đòi hỏi vốn lớn (suất đầu tư bình quân cho mỗi công trình vài chục đến hàng trăm tỷ đồng). Khó khăn về vốn là nguyên nhân chính dẫn đến tiến độ thi công chậm, nhiều dự án bị ''treo''. Đa số các chủ đầu tư đều trông chờ vào ngân hàng nhưng không phải khi nào việc vay vốn ngân hàng cũng xuôi chèo mát mái, nhất là trong tình trạng hiện nay mức lãi suất vay từ các ngân hàng thương mại đã lên đến trên 17%.

Hầu hết các dự án thủy điện vừa và nhỏ được triển khai xây dựng trên địa bàn chậm tiến độ do thiếu vốn. Mặc dù Chính phủ đã cho phép mọi thành phần kinh tế đầu tư vào thủy điện vừa và nhỏ nhưng việc thu hút vốn đầu tư cũng không thuận lợi vì cơ chế chính sách hỗ trợ thu hút đầu tư chưa rõ, nhất là đối với các dự án đầu tư ở vùng sâu, vùng xa, hiện có trên 80% dự án thủy điện vừa và nhỏ ở Kon Tum chậm tiến độ do thiếu vốn...


(Theo Năng lượng Dầu khí)